Những biện pháp cơ bản khi nuôi cá trê vàng

Hiện nay, phong trào nuôi cá trê vàng thương phẩm đang phát triển ở một số địa phương quận Thốt Nốt và huyện Vĩnh Thạnh. Do một số hộ nuôi chưa có kinh nghiệm, quá trình áp dụng kỹ thuật nuôi chưa nhiều nên xảy ra rủi ro trong quá trình nuôi như: Cho ăn không phù hợp, tỷ lệ sống thấp, cá tăng trưởng chậm, dễ nhiễm bệnh….từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của người nuôi. Để khắc phục những rủi ro trong quá trình nuôi, bài viết những biện pháp kỹ thuật cơ bản khi nuôi cá trê vàng nhằm giúp người nuôi cá trê vàng giảm thiểu rủi ro và nuôi đạt hiệu quả hơn.

1. Thiết kế ao nuôi

– Vị trí ao nuôi:

+ Ao nuôi cá trê phải được đặt gần nguồn cấp nước tốt (sông, kênh rạch), tránh xa các nguồn gây ô nhiễm, khu công nghiệp.

+ Ao không bị nhiễm phèn, nhiễm mặn. Độ phèn (pH) của nước trung tính và dao động từ 6,5 – 7,5.

+ Ao phải gần nhà để tiện việc quản lý và chăm sóc.

– Diện tích ao nuôi tùy vào điều kiện của nông hộ, tuy nhiên tốt nhất là ao có diện tích từ 500 m2 trở lên.

+ Độ sâu của ao từ 1 – 1,5 m. Ao phải có cống cấp và thoát nước.

+ Ao tốt nhất có dạng hình chữ nhật với chiều dài gấp 3 – 4 chiều ngang.

+ Xung quanh ao phải thoáng, không có cây cối rậm rạp. Trường hợp ao nuôi cá nằm trong vườn, cần phải chặt bỏ các cây xung quanh ao để ao được thoáng.

+ Trong ao nuôi cá trê nên thiết kế 1 hay nhiều nơi cho cá ăn, đó là các sàn cho cá ăn. Việc này sẽ giúp ích cho việc theo dõi cá ăn và điều chỉnh lượng thức ăn.

– Vị trí ao nuôi:

+ Ao nuôi cá trê phải được đặt gần nguồn cấp nước tốt (sông, kênh rạch), tránh xa các nguồn gây ô nhiễm, khu công nghiệp.

+ Ao không bị nhiễm phèn, nhiễm mặn. Độ phèn (pH) của nước trung tính và dao động từ 6,5 – 7,5.

+ Ao phải gần nhà để tiện việc quản lý và chăm sóc.

– Diện tích ao nuôi tùy vào điều kiện của nông hộ, tuy nhiên tốt nhất là ao có diện tích từ 500 m2 trở lên.

+ Độ sâu của ao từ 1 – 1,5 m. Ao phải có cống cấp và thoát nước.

+ Ao tốt nhất có dạng hình chữ nhật với chiều dài gấp 3 – 4 chiều ngang.

+ Xung quanh ao phải thoáng, không có cây cối rậm rạp. Trường hợp ao nuôi cá nằm trong vườn, cần phải chặt bỏ các cây xung quanh ao để ao được thoáng.

+ Trong ao nuôi cá trê nên thiết kế 1 hay nhiều nơi cho cá ăn, đó là các sàn cho cá ăn. Việc này sẽ giúp ích cho việc theo dõi cá ăn và điều chỉnh lượng thức ăn.

2. Chuẩn bị ao nuôi

Trước khi thả cá ao cần được chuẩn bị kỹ theo các bước sau:

– Vét hết lớp bùn đáy ao, kiểm tra kỹ bờ ao, cống bộng, gia cố bờ ao, làm sàn ăn cho cá, rào lưới xung quanh.

– Bón vôi bột với liều lượng 10 – 15 kg/100 m2. Nếu là ao đã nuôi cá trước vài vụ thì có thể tăng lượng vôi lên 20 kg /100 m2 để đảm bảo tẩy trùng cho ao.

– Nếu có điều kiện phơi ao 3 – 5 ngày, sau đó cấp nước vào ao với mức nước ban đầu là 1 – 1,2 m. Dùng Vikon A với liều 1g/m3 (Cty Vemedim) nước tạt đều khắp ao, để diệt khuẩn nước ao nuôi.

3. Chọn giống và thả giống

– Chọn cá giống:

– Cá không bị dị tật, màu sắc tươi sáng, cá nhanh nhẹn, bơi lội khoẻ và chạy thành đàn.

– Kích cỡ và mật độ thả nuôi: Cá giống thả nuôi phải đều cỡ. Kích cỡ cá thả nuôi tốt nhất là 6 – 8 cm thường được thả nuôi với mật độ từ 8 – 10 con/m2. Trong điều kiện nguồn nước tốt và thức ăn đầy đủ có thể thả nuôi với mật độ 15 – 20 con/ m2.

– Thả giống

Thời vụ thả nuôi thích hợp nhất từ tháng 6 – 7 hàng năm, vì đây là mùa sinh sản của cá trê nên chất lượng con giống sẽ tốt hơn so với các thời điểm khác trong năm.

4. Thức ăn và cách cho ăn

– Thức ăn:

+ Thức ăn cho cá thay đổi tùy vào giai đoạn phát triển của cá. Hiện nay, trên thị trường có nhiều loại thức ăn công nghiệp dạng viên nổi, đây là một nguồn thức ăn tốt cho việc nuôi cá trê thâm canh trong ao. Chúng có những ưu điểm như hàm lượng các chất dinh dưỡng đầy đủ và ổn định, dể bảo quản và giảm chi phí nhân công. Tuy nhiên, thức ăn viên công nghiệp hiện nay chưa được người nuôi sử dụng nhiều vì giá cao. Thức ăn viên sử dụng cho nuôi thịt cá trê phải có hàm lượng đạm lớn hơn 22 %.

+ Các loại thức ăn dạng ẩm sử dụng để nuôi cá trê sau khi chế biến phải được cho cá ăn ngay trong ngày, vì thức ăn ẩm rất dễ bị hư do tác động của các vi sinh vật.

– Cách cho cá ăn:

+ Nên tập cho cá ăn tập trung tại các sàn cho cá ăn. Rải thức ăn ít và chậm cho cá ăn hết thức ăn mới rải tiếp. Khi cá không còn tập trung lại ăn là dấu hiệu cá đã no, thì ngừng cho ăn.

+ Lượng thức ăn cho 2 tháng đầu của chu kỳ nuôi là 5 – 7 kg/100 kg cá và cho các tháng sau của chu kỳ nuôi là 3 – 5 kg/100 kg cá. Cho ăn 2 lần trong ngày.

5. Quản lý ao nuôi

– Theo dõi mức độ ăn của cá để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp, điều này rất dể quan sát vì cá trê ăn tập trung một chỗ khi đã no chúng sẽ tản ra xa do đó có thể tính toán được lượng thức ăn cần thiết cho cá.

– Mặc dù cá trê có sức chịu đựng cao và thích ứng tốt với sự thay đổi của môi trường nuôi, nhưng trong mô hình nuôi thâm canh với mật độ rất cao việc tuần tra, theo dõi hoạt động của cá nuôi phải được thực hiện thường xuyên.

– Những biểu hiện không tốt của cá trong ao nuôi như: cá nổi đầu, bơi lờ đờ, cá bỏ ăn hay cá có biểu hiện bệnh và chết phải được xử lý với những biện pháp thích hợp. Luôn giữ nguồn nước ao sạch và ổn định.

– Cần hạn chế sử dụng các loại thuốc kháng sinh trong nuôi cá trê vì thuốc làm giảm tốc độ tăng trưởng của cá và làm tăng giá thành sản phẩm.

6. Thu hoạch

Sau thời gian 3,5 – 4 tháng nuôi cá trê sẽ đạt kích cỡ thương phẩm. Có thể thu tỉa dần những cá lớn, để cá nhỏ lại tiếp tục nuôi hoặc thu toàn bộ cá trong ao. Năng suất cá trê nuôi thường đạt 5 – 15 kg/m2. Ngoài ra cá trê còn có thể nuôi ghép với một số loài cá khác. Một số mô hình nuôi ở cá trê kết hợp với heo, gà, vịt hay ruộng lúa, ao sen, mương vườn cũng mang lại hiệu quả kinh tế. Bên cạnh đó hình thức nuôi cá trê trong lồng cũng cho năng suất cao.

Những biện pháp cơ bản khi nuôi cá trê vàng. Nguồn tin: Trần Văn Đáp – LLTS Thốt Nốt – Vĩnh Thạnh

You can leave a response, or trackback from your own site.

Leave a Reply

Theme: Blue News